slogan
menu menu
Trang chủ Kiến thức nhà nông

Dinh dưỡng trung - vi lượng

Cập nhật: 09:59 Ngày 09/05/2017

 
Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng
Cây trồng nói chung cần khoảng 16 nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu, đó là: C, H, O, N, P, K, S, Ca, Mg, Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, Mo. Những nguyên tố dinh dưỡng này được chia thành 4 nhóm:
 
C, H, O cây trồng chủ yếu lấy từ nước (H2O) và không khí (O2 và CO2).
Khoáng đa lượng: N, P, K.
Khoáng trung lượng: S, Ca, Mg.
Khoáng vi lượng: Fe, Mn, B, Cl, Zn, Cu, Mo.
 
Với sự phát triển của khoa học nông nghiệp, nhất là cuộc
Quy tắc tối thiểu

“Cách mạng xanh” diễn ra từ thập niên 60 của thế kỹ trước, năng suất và chất lượng nông sản đã có một bước đại nhảy vọt. Một trong những nguyên nhân của cuộc đại nhảy vọt này là việc đưa vào sử dụng rộng rải các loại phân bón N, P, K hóa học, hiện nay, điều này gần như không thể, vì với N, P, K, năng suất cây trồng đã đạt tới giới hạn tối đa. Chính việc sử dụng vô tội vạ đa lượng hóa học đã dẫn tới ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tồn dư phân bón trên cây trồng gây nguy hại cho người tiêu dùng, cây trồng phát triển không cân bằng, sức đề kháng yếu, thường xuyên xẩy ra dịch bệnh lớn gây tổn thất nghiêm trọng.
Hiện nay, cải thiện năng suất cây trồng chủ yếu dựa vào các con đường:
 
  • ·        Giống mới.
  • ·        Dinh dưỡng cây trồng.
  • ·        Bảo vệ thực vật.
  • ·        Hệ thống canh tác.

Trong đó, dinh dưỡng trung vi lượng đã đóng góp phần rất lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện chất lượng nông sản. Khi nhận thấy hầu như không thể cải thiện năng suất cây trồng nếu chỉ đơn thuần dựa vào N, P, K, vai trò của trung vi lượng bắt đầu được chú trọng, việc sử dụng cân đối đa – trung – vi lượng đã cho thấy khả năng tiếp tục tăng năng suất và chất lượng nông sản.
CuSO4
 
 
Thời kỳ đầu, trung – vi lượng chủ yếu là phân hóa học và khoáng vô cơ. Có thể kể tới CaO, CaCO3, MgSO4, ZnSO4, H3BO3, MnSO4CuSO4 vôi, lân nung chảy, dolomite… Những loại phân này có ưu điểm dễ sản xuất, dễ khai thác, rẻ tiền. Nhược điểm của chúng là khả năng hấp thụ thấp, gây nhiều phản ứng phụ, thường xẩy ra phản ứng với các hoạt chất khác, dễ gây ngộ độc cho cây trồng, gây ô nhiểm môi trường, tồn dư của của những loại phân này gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng…
 
Công nghệ Chelate ra đời đã giải quyết những vấn đề còn tồn tại đối phân vi lượng. Chelate là dạng phức vòng càng giữa các hợp chất hữu cơ dẫn xuất từ amino polycacboxylic axit với các ion kim loại. Loại chelate được sử dụng phổ biến nhất là EDTA (EthyleneDiamineTetraacetic Acid).
Cấu trúc phân tử EDTA
Các EDTA tan rất tốt trong nước, hấp thu tốt và có hoạt tính cao (gấp 10 – 100 lần so với các nhóm vô cơ hóa học), không mang điện tích, hầu như không gây phản ứng phụ, không phản ứng với các hoạt chất khác, không tồn dư sản phẩm, không gây ô nhiễm môi trường… Một số loại phân bón trung vi lượng dạng EDTA do Agramate nhập khẩu và phân phối:
10% Canxi dạng chelate
 
-      
6% Magiê dạng chelate
-         
14% Đồng dạng chelate
.
-         
12% Sắt dạng chelate
 
12% Mangan dạng chelate
15% Kẽm dạng chelate
Các EDTA có nhược điểm là giá cao, liều dùng rất thấp nên trong một số trường hợp khó sử dụng.
So với EDTA, thì trung vi lượng dạng Amino acid chelate là một bước tiến lớn, trong đó, các phức chất chelate được tạo ra do sự kết hợp giữa amino acid và vi lượng kim loại, nhóm này có khả năng hấp thụ cao hơn, xâm nhập sâu vào tế bào, do đó có hoạt tính cao hơn, bản thân các chất mang là các amino acid là thành phần của protein, là dinh dưỡng hữu cơ cho cây trồng. Các Amino acid chelate được sử dụng trong nhiều loại dược phẩm và thực phẩm chức năng để cung cấp nhanh khoáng cho người, Amino acid chelate cũng được bổ sung vào thức ăn gia súc để đảm bảo nhu cầu khoáng cho vật nuôi. Trong trồng trọt, các Amino acid chelate là loại phân bón trung vi lượng cao cấp có hoạt tính cao nhất, vừa cung cấp trung vi lượng hoạt tính cao, vừa cung cấp amino acid.
Đặc biệt: Amino acid chelate copper (amino axit chelate đồng) có khả xâm nhập sâu vào tế bào, nhờ đó có thể tấn công và tiêu diệt tốt các loại nấm khuẩn gây bệnh. Đặc biệt, Amino acid chelate copper đóng vai trò chống virus bằng cách ức chế tổng hợp nucleic acid và lipoprotein của virus.
Amino acid chelate đồng
Khi sử dụng trong hệ thống tưới nhỏ giọt, các Amino acid chelate có thể tương thích với hầu hết các loại hóa chất nông nghiệp. Với những trang trại sử dụng nước ngầm trong hệ thống tưới nhỏ giọt, nước “cứng” là một vấn đề khó giải quyết, vì nhiều loại hóa chất không tan trong loại nước này, các Amino acid chelate không chỉ cung cấp khoáng trung vi lượng, amino acid, mà còm có thể làm “mềm” nước, qua đó, tạo môi trường thuận lợi cho việc hòa tan dinh dưỡng.

Amino acid chelate hoạt động tốt trong môi trường trung tính tới acid, pH 5 – 7.

Nội dung tương tự
Thiết kế bởi**Web24h Design Team
Số lượt truy cập: 67331 | Khách đang trực tuyến: 4